CÁC "MIỆT" TẠI MIỀN NAM! 


 

          Chủ-Nhật, 27-8-2017

 

   Miền Nam là phần lảnh thổ sau cùng và tận cùng về phía nam của nước ta. So với hai miền kia, quả có nhiều khác biệt! Khác biệt về nhiều thứ như: Con người miền Nam với tánh tình hiền hoà, chơn chất, phóng khoáng hiếu khách! Đó là về mặt tích cực, về mặt ”tiêu-cực” (theo một nghĩa nào đó) thì người miền Nam thích hưởng nhàn, sống hơi an phận, không thích tranh đấu, bon chen, và vì vậy không biết nhiều mưu mô, mánh khoé!!! Và có lẽ vì vậy, mà thưòng bị  thua kém phần nào so với đồng bào nói chung của hai miền kia! Chỉ xin lạm bàn đôi điều, mà chúng ta đã nhận ra với biết bao thấm thía… Riêng xét về mặt hình thể, địa thế, mảnh đất miền Nam cũng khác, khác khá nhiều! Đây là một vùng bình nguyên, thế đất đa phần bằng phẳng, chỉ một ít có những thế đất cao, như đồi, trảng, going! Tuy nhiên, cũng phải kề một vài tỉnh vơí những ngọn núi không cao lắm, chỉ khoảng dưới ngàn mét như: Chứa-Chan, Bà Đen, núi Dinh,Thị-Vải  và cụm dãy núi Thất-Sơn!!! Điểm đặc biệt hiếm có của miền Nam là sông nước mênh mông, do hai hệ thống  sông Đồng-Nai và Cửu-Long. Thêm vào đó còn có cả những kinh đào, là đặc trưng không có ở miền khác. Về cư dân, dĩ nhiên cũng có phần khác biệt! Vì nơi nầy vốn xưa có cư dân gốc Cam-Bốt, Chàm, người Stiêng, Mạ, Mnông...  cùng là nhóm ngưòi Tầu không nhỏ theo làn sóng đi khai phá do các lảnh đạo của họ là Mạc-Cửu, Trần-Thưọng-Xuyên... Tất cả đã hoà quyện thành một “ngưòi Nam” như chúng ta đã biết! Riêng về địa danh, chúng tôi đã sưu tập, phân tích đúc kết có sàng lọc, một sự sưu tập chắc hẳn còn quá nhiều thiếu sót, phiến diện! Về địa danh thì miền Nam với những đặc trưng như: Nhiều tên mang chữ “cái”, nhiều tên mang chữ kinh, rạch, xẽo, nhiều tên mang âm hưởng ngôn ngữ bản địa (nhứt là từ tiếng Cam-Bốt), cũng như vì kỵ húy hay ước vọng hoà bình, mang tên “đẹp” như “phú, mỹ, lợi, hưng...". Và điểm đặc biệt khác của miền Nam, về địa danh, còn có ‘miệt’, mà chắc chắn không có tại hai miền kia!!!

 

 

   Theo nhà học-giả Paulus Của, trong quyển “Đại-Nam Quốc-Âm Tự Vị” định nghiã miệt là: Nhỏ mọn, xứ miền, dảy đất. Theo một giải thích khác, miệt có thể phát xuất từ hiện tượng đọc “trại ra”, tức biến âm, từ miền đọc trại thành “miệt”

   Tại miền Nam có bao nhiêu miệt, còn tùy theo sự phân chia của vài tác giả. Trước tiên, theo tác giả Nguyễn-Vĩnh Long-Hồ (Người Long-Hồ), trong tài liệu trường thiên mang tên “Đất Phương Nam” (dài trên 2000 trang khổ lớn) đã phân ra các miệt như sau 😝

 

    - Miệt Đồng-Tháp: Gồm Tân-An, Mộc-Hóa và Cao-Lảnh.

    - Miệt Vườn: Gồm Sa-Đéc, Mỹ-Tho, Vĩnh-Long, Cần-Thơ và Long-Xuyên.

    - Miệt Biển: Gồm Gò-Công, Bến-Tre, Trà-Vinh, Sóc-Trăng và Bạc-Liêu.

    - Miệt Thất-Sơn: Gồm Châu-Đốc và Bảy Núi (Thất-Sơn).

    - Miệt Thứ U-Minh: Gồm Cà-Mâu, Chương-Thiện và Rạch-Giá.

    - Miệt Hà-Tiên: Gồm Hà-Tiên, Giàng-Thành (Kiên-Giang) và Phú-Quốc.

 

                                       

               Miệt vườn với biết bao cây trái thơm ngon như cây dừa xiêm với bao buồng trái nặng-trĩu.

 

Theo một nghiên-cứu khác, nhà văn Sơn-Nam chia ra các MIỆT như sau:

 

    - Miệt trên: Gồm Biên-Hòa, Gia-Định, Bà-Rịa.

    - Miệt Cao-Lảnh: Gồm vùng Cao-Lảnh ngày nay.

    - Miệt Đồng-Tháp-Mười: Gồm vùng lòng chảo ĐTM

    - Miệt Mỹ-Vãng: Gồm Mỹ-Tho, Vĩnh-Long.

    - Miệt Dưới: Gồm  Rạch-Giá, Cà-Mâu.

    - Miệt Chợ Thủ, ông Chưỏng: Gồm nơi sông Hậu, sông Tiền, Long-Xuyên.

    - Miệt Xà Tón, Bảy Núi: Gồm vùng Thất-Sơn, Tri-Tôn.

 

   Cũng cần ghi nhận là vùng miền Đông Nam Phần hầu như ít xếp vào các miệt, có chăng là chỉ được gọi chung là“miệt trên” mà thôi. Trong dân gian, người ta còn thoãi mái, đặt thêm những miệt nữa, thí dụ người dân ở miệt miền Tây, có thể gọi vùng từ Sài-Gòn trở lên là “miệt trên”, hay ngược lại. Thêm nữa, sự phân chia miệt cũng chỉ tương đối, như xếp tỉnh Bến-Tre vào ”miệt biển“ cũng không hoàn toàn chính xác, vì tỉnh nầy phần giáp biển, nhưng cũng là tỉnh có những vườn trái cây nổi tiếng như Cái-Mơn...

 

   Ngoài ra, cũng còn một cách chia đơn-giản các miệt như sau:

 

 a/ Miệt vườn: Gồm gọi chung các nơi cao ráo,có vườn cây ăn trái ven sông Tiền, sông Hậu thuộc tỉnh Sa-Đéc, Vĩnh-Long, Mỹ-Tho, Cần -hơ.

   Đề cập đến miệt vườn, người ta không thể không kể sơ qua về những trái cây rất thơm ngon, hầu như cả miền Tây và một vài tỉnh miền Đông, nơi nào cũng có không ít thì nhiều. Ngày nay, tại “xứ người” đã xuất hiện nhiều cây ăn trái giống hệt như tại quê nhà, nhưng mà, dường như cũng còn gì đó khang khác  thật khó tìm thấy, có phải chăng đó là hương vị quê nhà... Sau đây là một số vườn khá nổi tiếng, ta hãy nhìn lại một vài cây ăn trái thân quen mà bao năm qua ít có dịp nhìn lại!!!

 

   Vườn trái cây An-Bình thuộc huyện Long-Hồ (Vỉnh-Long).

 

                                                         

                                                     Hình một cây chôm-chôm (nơi vườn trái câyAn-Bình).

 

   Tại tỉnh Vỉnh-Long,  khá nhiều vuờn cây ăn trái như ở cái Vồn, An-Bình. Tại những khu vưòn nầy, cũng có đủ các loại cây trái thơm ngon, như: chôm-chôm, xoài, và đặc biệt có giống bưởi Năm-Roi, bưởi da xanh. Nhắc đến tên Long-Hồ, người ta bỗng như nghe văng vẳng đâu đây những câu ca ngọt lịm của ”ông Cò quận Chín"!!!

 

   Vườn trái cây Mỹ-Khánh, huyện Phong-Điền - Cần-Thơ

 

   Đi từ Cần-Thơ về hướng Sóc-Trăng, chỉ khoản 6 km. Các vườn vùng nầy có trồng trên 20 loại trái cây như mận, xoài, chôm-chôm, dâu... và đặc biệt quít đường. Nhìn hình bên dưới, khách du có còn nhìn những chùm quít vàng tươi, hay gương mặt trăng trắng xinh xinh của gái miệt vườn!!!

 

                                                        

                                                                    Hình cô gái đang hái quít đường.

 

   Vườn trái cây Vĩnh-Kim, huyện Châu-Thành, Tiền- Giang.

 

   Đặc biệt đây có loại vú sửa lò rèn, trái tròn căng, vỏ mỏng, thơm ngọt. Ngoài ra còn sầu riêng, chôm-chôm, bưởi... Xin lạm bàn  về vú... sửa và cách ăn vú sửa, trước tiên về phân lọai, có vài loại khác nhau như: Trái màu tím, hay màu mở gà vàng ươm, trái tròn căng hay hơi thon dài; nhưng mà  cho dù màu sắc hay hình dáng có khác, bên trong vú sửa cũng cùng tràn đầy sửa ngọt! Đặc biệt, cách ăn vù sửa đúng nhứt là phải... xoa bóp vài lượt và nắm kéo cái cuống núm, xong kê miệng vào nút từ từ! Nhớ đừng nút nhanh và mạnh quá, không khéo coi chừng sửa tràn ra dính cả mồm! Đấy, ăn vú sửa có cái thú là vậy!!!

 

 

                    Vú sửa lò rèn! Nơi xã Vĩnh-Kim -T iền-Giang. Tại đây, có ngôi chợ. Mà hầu hết là mặt hàng vú sửa!

 

   Cũng nhân đây, cần ghi nhận đôi chuyện xưa và nay thật vô cùng đáng nhớ. Chuyện xưa là cũng tại gần vùng nầy có con song “Rạch-Gầm”, nơi vua Quang -rung đã đánh tan đội quân Xiêm-La (Thái) với 50.000 quân. Chuyện nay, chỉ cách đây khoản trên 40 năm, tại gần nơi nầy có căn cứ Đồng-Tâm, bản doanh của sư-đoàn 7/BB Việt-Nam Cộng-Hoà. Vào trưa ngày 30/4/1975, chuẩn-tướng Trần-Văn-Hai, tư-lệnh sư-đoàn đã anh dũng tuẩn tiết! Trước khi nổ súng tự sát, ông đã nhờ người mang về cho Mẹ số tiền lương khoản 75.000 đồng VN thời đó! Thật là một vị tướng anh hùng, thật là một đứa con hiếu thảo ngàn đời đáng mến mộ tôn thờ!!! (Xin xem chi-tiết cũng trong thiên tài-liệu nầy)

 

       Vườn trái cây Cái-Bè - Tiền-Giang.

 

   Tỉnh Tiền-Giang, Mỹ-Tho hay Định-Tường cũ, là nơi đồng bằng sông nước. Tại nơi  nầy, cây trái vườn tược sum xuê, đặc biệt nơi Cái-Bè, nhiều loại trái cây thơm ngon, đặc biệt có xoài cát Hoà-Lộc. Chỉ cách Sài-Gòn trên dưới 70 km, đây là vựa trái cây lớn nhứt đồng bằng sông Cửu!!!

 

       

 

 

            

Cây mít sai trái

(Vườn ở huyện Cái-Bè - Tiền-Giang).

 

    Vườn trái cây Cái-Mơn - Chợ-Lách - Bến-Tre

 

   Vốn được bao bọc bởi 4 bề sông nước (sông Cổ-Chiên và Hàm-Luông) với biết bao cây trái thơm ngon, đặc biệt là giống sầu riêng cơm vàng hạt lép. Đây được đánh giá là nơi sản xuất cây giống lớn nhứt Việt-Nam. Cũng nên nhắc lại, CáiơMơn là  sinh quán của  một nhân vật thật vô cùng nổi tiếng! Đó là nhà bác học Trương-Vĩnh-Ký, ông là người có công hiệu đính, hoàn thiện hơn chữ quốc ngữ, để được trở thành một thứ chữ tiện lợi cho chúng ta!!! Riêng về chuyện cây trái, theo tài liệu có ghi, ông họ Vĩnh khi sang học tại các nơi nơi tu viện tại  Cam-Bốt, Mã-Lai... khi đi về đã mang một số cây giống, gíúp cải thiện cây trái tốt tươi và thom ngon của miệt Cái-Mơn. Cũng nhân đây, lại nói về công lao và sự “bất-công” của văn học sử miền Nam. Tại miền Nam, qua một thời gian dài, chẳng hiểu do đâu mà nhiều nhân tài văn học, trong đó đặc biệt văn hào Trưong-Vĩnh-Ký và nhà văn Hồ-Biểu-Chánh  đã bị -, đã bị “cho việt vị” hàng nhiều thế hệ. Công lao và văn tài của hai vị miền Nam nầy đã chỉ được giảng dạy rất hạn chế và “sơ sài” trong giới học sinh trung học và cả đại học!!!

 

                                                           

                               

                                            Hình cây Sầu-Riêng, Nơi vuờn trái cây Cái-Mơn - Bến-Tre.

 

   Vườn trái cây Lái-Thiêu - Thuận-An - Bình-Dương

 

   Chỉ cách Sài-Gòn khoản 20 cây số,rất tiện đi về trong ngày. Tại khu vực nầy, khá nhiều vườn với những trái cây thơm ngon như: Xoài, dâu, chôm-chôm, sầu-riêng, măng-cụt... Du khách có thể vào vườn, tự hái trái hoặc nhờ cả những chủ vườn cung cấp cho mình những bữa ăn đồng quê... Tóm lại, đi vườn trái cây Lái-Thiêu là một buổi picnic vô cùng thú vị!!!

 

                                                                            

                                                                                  Dâu Lái-Thiêu

 

   Ngoài những vườn vừa nêu, cũng còn nhiều nơi khác như miệt Long-Thành. (Long-Khánh), Kế-Sách (Ba-Xuyên). Nha-Mân (Sa-Đéc)...

 

   b/- Miệt đồng (ruộng): gồm các vùng tương đối thấp, ít có vườn, và nhiều đồng ruộng như: Sóc- Trăng, Long-Xuyên, Chương-Thiện...

 

   c/- Miệt thứ: Gồm vùng “lâm sắc” (theo sách Đại-Nam Nhứt Thống-Chí) mà dân địa phương gọi là miệt thứ, là vùng ven U-Minh, gồm: Rạch-Giá, Cà-Mâu và phần nào Bạc-Liêu.Gọi là miệt thứ, vì vùng nầy có 10 con rạch mang thứ tự từ thứ số một..., con rạch thứ  10 chảy ra biển. Đây là vùng xa xôi, hiền từ, quê mùa!

 

   Vào thời xa xưa, con gái miệt vườn, gả về miệt thứ U-Minh, ngồi buồn nhớ quê nhà, cất lên lời ca áo não.

 

                           Đêm đêm ra đứng hàng ba,

                          Trông về quê mẹ, lệ sa buồn buồn

                          Sương khuya ướt đẩm giàn bầu

                          Em về miệt thứ bỏ sầu cho ai.

 

   Ngày nay, phương tiên giao thông rộng mở, miệt thứ không còn là nơi “muổi kêu như sáo thổi. . ", nhưng xin hỏi mấy ai không mềm lòng, buồn chết được, khi nghe ca sĩ Phi-Phung nỉ non bài “em về miệt thứ”. Người ta không biết, ”em” Phi-Nhung về miệt thứ có ai cùng về; nếu chưa chắc không ít người tình nguyện về theo. Đề cập đến miệt, người dân miền Tây có suy nghĩ khá ngộ, từ ”miệt đồng” đôi khi cũng dùng để chỉ những dân “quê  mùa”, nhưng chỉ với hàm ý đùa cợt, không phải quá khinh khi!!!

 

   Trong một tác phẩm mang tên ”Văn Minh Miệt Vườn”, tác giả nhà nghiên cứu Sơn-Nam cũng đề cập nhiều khía cạnh về nét văn minh nầy. Được biết tài liệu trên xuất bản trước năm 1975, và sau nầy có tái bản với vài thay đổi, kể cả những “thay đổi” ngay con người của ông ấy. Thật đáng tiếc vô cùng. Bỏ qua những “Xu-thế” đáng tiếc nơi con người Sơn-Nam, tác giả đã nêu lên một nhận xét mà chúng ta dễ dàng chấp nhận, là những “cáí hơn” của miệt vườn (so với miệt đồng). Đó là:

 

    - Miệt vườn có nhiều huê lợi hơn (làm vườn khoẻ, nhẹ nhàng. . ), nhưng thu lợi nhiều hơn

    - Đất vườn cao hơn đất ruộng là lẽ đương nhiên vì phải cho cây trái không bị úng thủy.

    - Và đặc biệt con gái miệt vườn đẹp và trắng hơn, vì không phải lội xuống bùn xình,dải dầu mưa nắng. Cụ thể như con gái thuộc vùng Nha-Mân (Sa-Đéc) đẹp có tiếng. Đây chỉ là trên cơ bản, nhiều khi con gái miệt ruộng lại “rắn rỏi, mặn mà“ hơn. Riêng những chàng trai nông dân, đặc biệt miền Tây sông nước, ngày xưa cách đây khoản nửa thế kỷ, đa số chỉ quên với ruộng vườn. Nơi miệt đồng, miệt ruộng như Sóc Trăng, trai lớn lên chỉ biết làm ruộng mà thôi. Tánh tình thiệt thà chơn chất trong mọi thứ, kể cả chuyện “ghẹo gái’ như một chàng trai miệt Ngả Năm với lời tỏ tình thật dễ thương, qua bài:

 

                                        GHẸO  NGƯỜI  DƯNG

 

                 Xông Ngả Năm chải dìa năm ngả

                 Tui dí em chắc có lươn diên

                 Mới gặp đả thấy thuông liền

                 Mến người dân dả, chớ gái thị thiền thiếu chi.

                 Nói ga, chỉ xợ em cười

                 Tui đây chỉ thích những người gái quê

                 Mùi dầu dừa,tui gất mê

                 Mê luôn cả mái tóc thề của em.

                 Gái thị thiền,tui hổng ham

                 Cưới dìa hỏng biết chịu làm... guộng không ?

                 Hay là chỉ biết ngồi không

                 Lo xửa bóng xắc, buồn lòng tía tui.

               Em ơi, đây có mấy lời,

                 Tui ti ít học, nhưng người xiêng năng

                 Mần guộng dỏi nhứt chong làng,

                 Mấy thằng chạc tủi, hổng bằng tui đâu.

                 Em mà ưng chịu làm dâu,

                 Tía má xẻ xắm mâm chầu hỏi ngay.

               “Cưới dợ thì cưới liền tai,

                 Chớ để lâu ngày,thiên hạ dèm pha”

                 Ga diên xẻ thưa má ba,

                 Đến gặp thầy Xáu, coi ga tốt ngày

                 Tía má tui tính lâu nay,

                 Tui là con út, “phần mầy hưởng  chung”.

                 Guộng dườn còn xáo chục công

                 Em dìa hai đứa mình cùng chung lo.

                 Tía má theo ông theo bà,

                 Căn nhà thừa tự, xẻ là của tui.

                 Đây đã kể gỏ đầu đui,

                 Đó làm chồng dợ, đề gồi đẻ con

                 Chỉ chừn phản  một chục chơn,

                 Có nếp, có tẻ,  thì còn dì dui.

                 Em ôi, xao hỏng chả lời

                 Thò lỏ con mắt nhìn tui mà cười???

 

   (Bài thơ trên là “Tâm-tình” của một cậu dân quê tại Ngả-Năm (Sóc-Trăng), mà cũng cả miền Nam, vào khoản thập kỷ 1950. Lời lẽ mộc-mạc, phát-âm sai chánh tả... Sau đây là nguyên bài đúng giọng và chánh-tả)

 

              GHẸO  NGƯỜI  DƯNG

 

 

          Sông Ngả Năm chảy về năm ngả

          Tui với em chắc có lương duyên

          Mới gặp đã thấy thương liền

          Mến người dân dả, (chớ gái) thị thiền thiếu chi (1)

          Nói ra chỉ sợ em cười

          Tui đây chỉ thích những người gái quê

          Mùi dầu dừa, tui rất mê (2)

          Mê luôn cả mái tóc thể của em.

          Gái thị thiền,tui hổng ham

          Cưới dìa hỏng biết chịu làm ruộng không?

          Hay là chỉ biết ngồi không,

          Lo sửa bóng sắc,buồn lòng tía tui.

          Em ơi, đây có mấy lời

          Tui tuy ít học, nhưng người siêng năng.

          Mần ruộng giỏi nhứt trong làng

          Mấy thằng trạc tuổi hổng bằng tui đâu.

          Em mà ưng chịu làm dâu,

          Tía má sẽ sắm mâm trầu hỏi ngay

          Cưới vợ thi cưới liền tay

          Chớ để lâu ngày thiên hạ dèm pha

          Ra giêng sẽ thưa má ba,

          Đến gặp thấy Sáu, coi ra tốt ngày.

          Tía má tui tính lâu nay,

          Tui là con út,“phần mầy hưởng chung”.

          Ruộng vườn còn sáu  chục công,

          Em dìa hai đứa mình  cùng chung lo.

          Tía má... theo ông theo bà,

          Căn nhà thừa tự, cũng là của tui.

          Đây đã kể rõ đầu đuôi,

          Đó làm chồng vợ, để rồi... đẻ con.

          Chỉ chừng khoản một chục trơn,

          Có nếp có tẻ, thì còn gì vui

          Em ơi, sao hổng trả lời

          Thò lỏ con mắt, nhìn tui mà cười  

                                         Hoài-Việt

 

  (1) - Thị thiền là thị thành,

  (2) - Thời xưa, các cô thưòng dùng dầu dừa chài tóc cho óng mưọt. Ước gì, tui trẻ lại như khoản 1960, và được một lần ngửi mùi dầu dừa trên mái tóc của một cô thôn nữ Sóc-Trăng quê mình.

 

 * PS: Vì đây là tài liệu trích ra từ bài biên khảo khác, chúng tôi đã không ghi phần tài liệu tham khảo, cùng hững chú thích khác.  Chúng tôi sẽ cố gắng cho ra mắt baì biên khảo về “Miền Nam"

                                                                                         © Copyright 2017 De Nhi Bao Binh. All rights reserved.

   Contact:   Hội Ái Hữu Đệ Nhị Bảo Bình Khóa 23            Phụ trách: Nguyễn X. Tùng          Kỹ thuật: Trương V. Hùng           Cố vấn: Ngô V. Hùng